Có thể đẩy mạnh tín dụng được không?

Đầu tuần này, quyết định giảm lãi suất điều hành từ ngân hàng nhà nước đã có hiệu lực và một số ngân hàng thương mại đã công bố giảm cả lãi suất huy động và cho vay.

Chần chừ và do dự

Đây là lần thứ tư liên tiếp trong năm 2023 mà lãi suất điều hành đã được điều chỉnh giảm sau 3 lần tăng liên tiếp vào cuối năm trước đó.

Quyết định giảm lãi suất được đưa ra sau khi Thường trực Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giảm mức lãi suất ngay trong tháng 6/2023 để khắc phục tình trạng tăng trưởng tín dụng thấp trong 5 tháng qua. Văn bản chỉ đạo của Thường trực Chính phủ có ngôn ngữ quyết liệt và yêu cầu ngân hàng Nhà nước hành động khẩn trương.

Tình trạng tăng trưởng tín dụng thấp chỉ đạt 3,17% trong 5 tháng đầu năm đã khiến Thường trực Chính phủ lo lắng. Đây là con số thấp so với cùng kỳ các năm trước, ví dụ như sự tăng trưởng 8% trong cùng kỳ năm ngoái, khi kinh tế Việt Nam mới hồi phục sau đại dịch Covid-19.

Ngân hàng Nhà nước có lý do để chần chừ vì quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên mức lãi suất ở khoảng 5,0-5,25% trong tháng 6/2023, đây là lần đầu tiên sau 10 lần tăng liên tiếp trước đó mà FED không tăng lãi suất. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã tăng lãi suất thêm 0,25% lên mức 3,25%, là lần thứ 7 liên tiếp để đối phó với lạm phát cao kéo dài.

Chính sách lãi suất của Việt Nam đang đi ngược lại với thế giới, tuy nhiên, tình hình kinh tế Việt Nam có vẻ khác biệt so với tình hình toàn cầu.

Thanh khoản đã là vấn đề lớn nhất

Như đã được phân tích nhiều lần, Việt Nam sẽ không phải đối mặt với mức lạm phát cao như các quốc gia khác, vì có một số lý do như sự tách biệt với nền kinh tế nói chung của khu vực FDI khi họ nhập khẩu lạm phát rồi xuất khẩu ra khỏi đất nước; Việt Nam có khả năng tự cung cấp lương thực và thực phẩm; các gói kích thích kinh tế có quy mô không quá lớn; và quan trọng nhất là sức mua yếu của người dân và doanh nghiệp

Sự gia tăng lạm phát trong năm ngoái đã xảy ra do ảnh hưởng của một số yếu tố như tăng giá thành nguyên liệu đầu vào và sự gián đoạn trong nguồn cung xăng dầu, nhưng không có sự biến đổi đột ngột và vẫn duy trì ở mức thấp so với mục tiêu Quốc hội đặt ra, không quá 4%. Tình hình lạm phát hiện tại cũng tương tự.

Do nhận định không chính xác về lạm phát, chính sách tiền tệ đã bị siết chặt quá mức. Một mặt, tỷ giá đã được giữ quá lâu và chỉ khi các dự trữ không còn đủ để duy trì nữa, thì mới được điều chỉnh “nhảy múa” một cách đột ngột.

Mặt khác, trong khi doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều vốn hơn khi mở cửa lại, thì lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Chỉ đến những ngày cuối cùng của năm ngoái, hạn mức tín dụng mới được nới lỏng, nhưng đã không có tác động tích cực do thời gian cạn kiệt. Trong suốt năm 2022, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 14,16%, chỉ cao hơn một chút so với mục tiêu 14% công bố ban đầu.

Doanh nghiệp cần nhiều vốn lưu động hơn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, do giá thành và chi phí sản xuất tăng lên vượt quá khả năng kiểm soát. Đáng ra, chính sách tiền tệ nên được nới lỏng hơn thay vì siết chặt như trước. Tuy nhiên, vì lo ngại về việc kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp tục siết chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất mà không tăng hạn mức tín dụng.

Kết quả là nguồn tín dụng trở nên khan hiếm hơn, chi phí vốn tăng lên, làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn.

Mặc dù lạm phát ở mức thấp, nhưng lãi suất ngân hàng ở mức cao và liên tục tăng trong những tháng cuối năm đã dẫn đến sự chênh lệch cao giữa lãi suất và lạm phát, cũng như giữa lãi suất huy động và cho vay.

Tăng trưởng tín dụng chỉ đạt hơn 3% trong nền kinh tế luôn đòi hỏi nguồn vốn nhiều hơn, điều này cho thấy tình trạng không tốt của dân và doanh nghiệp, như Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã nói tại Quốc hội. Số lượng doanh nghiệp “rút lui khỏi thị trường” trong 5 tháng đầu năm là bằng chứng bổ sung cho điều này.

Báo cáo của Ban IV cuối tháng 5 năm 2023 cho biết, lòng tin của doanh nghiệp đối với kinh tế vĩ mô và ngành kinh tế trong tình hình này đặc biệt thấp: Có đến 81,4% doanh nghiệp được khảo sát đánh giá tiêu cực/ rất tiêu cực về triển vọng kinh tế Việt Nam trong những tháng còn lại của năm 2023.

Tương tự, có đến 83,7% doanh nghiệp đánh giá triển vọng kinh tế ngành năm 2023 là tiêu cực/ rất tiêu cực, trong đó có 29,6% là rất tiêu cực. Và trong cảnh “tối màu” đó, các doanh nghiệp trong ngành Xây dựng, các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh có mức đánh giá tiêu cực cao hơn.

Các khó khăn và thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp đang phải đối mặt bao gồm: khó khăn về đơn hàng (59,2%); khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay (51,1%); thực hiện thủ tục hành chính và tuân thủ các quy định pháp luật (45,3%); nguy cơ hình sự hóa các giao dịch kinh tế (31,1%).

Tín dụng là khó khăn lớn thứ hai mà cộng đồng doanh nghiệp đang đối mặt!

Ngân hàng và doanh nghiệp đang cùng chung 1 con thuyền

Thắt chặt tiền tệ và đứt gãy thị trường trái phiếu đã góp phần làm tăng khó khăn trong tín dụng doanh nghiệp và thiếu hụt thanh khoản trên thị trường. Điều này đã lan sang thị trường bất động sản, làm thu hẹp cung và cầu trong thị trường này.

Việc trách chính sách tiền tệ là không công bằng, cân bằng và khách quan vì còn cần cân nhắc đến các chính sách khác như tài khóa, đầu tư công, trái phiếu và thủ tục hành chính. Việc thực hiện các giải pháp nhằm giảm bớt các rào cản này, song song với chính sách tiền tệ, là điều cần thiết.

Mặc dù lãi suất đã được hạ, nhưng lãi suất cho vay vẫn gặp khó khăn. Tăng trưởng tiền gửi thấp cũng là một vấn đề quan trọng, khiến nguồn tài nguyên để cho vay bị hạn chế. Hơn nữa, việc xem xét lãi suất cao cũng cần đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm nợ trái phiếu, thị trường bất động sản và các vấn đề khác vượt quá phạm vi của ngành ngân hàng và tiền tệ.

Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp và cần đảm bảo an toàn vốn. Họ cũng muốn nới lỏng điều kiện cho vay để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của doanh nghiệp, nhưng cũng bị ràng buộc bởi các quy định và yêu cầu về an toàn vốn. Đạt được sự cân bằng giữa việc giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và đảm bảo an toàn vốn không dễ dàng đối với ngân hàng thương mại, và đó không phải là trách nhiệm chính của họ.

Ngân hàng và doanh nghiệp là hai thành phần quan trọng và liên kết với nhau. Sự thành công của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến ngân hàng và ngược lại. Điều này có thể là điểm khởi đầu để giải quyết vấn đề, nhưng chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ quy trình.

Xem thêm: Ngân hàng nhà nước quyết định hạ lãi suất điều hành lần thứ 4, giảm 0,5 điểm từ ngày 19/6