Định hướng phát triển năng lượng Việt Nam đến năm 2050

Định hướng phát triển năng lượng Việt Nam đến năm 2050

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia đến năm 2050, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Định hướng phát triển năng lượng Việt Nam đến năm 2050 đã được Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà phê duyệt thông qua Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia. Quy hoạch này nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Mục tiêu chính của Quy hoạch là đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái. Ngoài ra, Quy hoạch cũng nhấn mạnh việc thực hiện chuyển đổi năng lượng để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia:
  • Đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước.
  • Đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2021 - 2030, khoảng 6,5 - 7,5%/năm trong giai đoạn 2031 - 2050.
  • Tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng vào năm 2030 là 107 triệu tấn dầu quy đổi và đạt 165 - 184 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2050.
  • Tổng cung cấp năng lượng sơ cấp vào năm 2030 là 155 triệu tấn dầu quy đổi và 294 - 311 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2050.
  • Nâng tổng mức dự trữ xăng dầu cả nước lên 75 - 80 ngày nhập ròng vào năm 2030 và xem xét tăng dần lên 90 ngày nhập ròng sau năm 2030.
Chuyển đổi năng lượng công bằng:
  • Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp đạt 15 - 20% vào năm 2030 và khoảng 80 - 85% vào năm 2050.
  • Tiết kiệm năng lượng khoảng 8 - 10% vào năm 2030 và khoảng 15 - 20% vào năm 2050 so với kịch bản phát triển bình thường.
  • Mức thải khí nhà kính vào năm 2030 là khoảng 399 - 449 triệu tấn và vào năm 2050 là khoảng 101 triệu tấn. Mục tiêu cắt giảm khí nhà kính là 17 - 26% vào năm 2030 và khoảng 90% vào năm 2050 so với kịch bản phát triển bình thường.
Phát triển ngành công nghiệp năng lượng:
  • Khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước.
  • Sản lượng khai thác dầu thô vào giai đoạn 2021 - 2030 đạt 6,0 - 9,5 triệu tấn/năm và vào giai đoạn 2031 - 2050 đạt 7,0 - 9,0 triệu tấn/năm.
  • Sản lượng khai thác khí tự nhiên vào giai đoạn 2021 - 2030 đạt 5,5 - 15 tỷ m3/năm và vào giai đoạn 2031 - 2050 đạt 10 - 15 tỷ m3/năm.
  • Sản lượng khai thác than vào giai đoạn 2021 - 2030 khoảng 41 - 47 triệu tấn/năm và vào giai đoạn 2031 - 2050 khoảng 39 triệu tấn/năm vào năm 2045 và khoảng 33 triệu tấn/năm vào năm 2050.
  • Phát triển ngành công nghiệp năng lượng hướng tới trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng sạch và xuất khẩu năng lượng tái tạo của khu vực.

Để thực hiện Quy hoạch, đã được đề ra 6 giải pháp bao gồm: huy động và phân bổ vốn đầu tư, cơ chế và chính sách, môi trường, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch.

Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia đến năm 2050 đã đặt ra những mục tiêu cụ thể và các giải pháp thực hiện, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Việc thực hiện quy hoạch này sẽ đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước.

[question] Mục tiêu chính của Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia là gì?,Quy hoạch đặt mục tiêu tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp vào năm 2030 và năm 2050 là bao nhiêu?